Trái phiếu doanh nghiệp là công cụ huy động vốn quan trọng, giúp các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu tài chính trung và dài hạn. Việc phát hành và sử dụng vốn từ trái phiếu phải tuân thủ những nguyên tắc nghiêm ngặt, đảm bảo tính minh bạch, an toàn và hiệu quả, đồng thời bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và duy trì sự ổn định của thị trường tài chính. Cụ thể như sau:
1. Trái phiếu doanh nghiệp
- Khoản 3 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 quy định:
“Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành.”
- Theo Điều 4 Nghị định 153/2020/NĐ-CP và khoản 1 Điều 1 Nghị định 65/2020/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 153/2020/NĐ-CP) quy định:
+ Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành.
+ Trái phiếu doanh nghiệp xanh là trái phiếu doanh nghiệp được phát hành để đầu tư cho dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, dự án mang lại lợi ích về môi trường theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường.
+ Trái phiếu chuyển đổi là loại hình trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của chính doanh nghiệp phát hành theo điều kiện, điều khoản đã được xác định tại phương án phát hành trái phiếu.
+ Trái phiếu có bảo đảm là loại hình trái phiếu được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần lãi, gốc bằng tài sản của doanh nghiệp phát hành hoặc tài sản của bên thứ ba theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; hoặc được bảo lãnh thanh toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính ở nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế theo quy định của pháp luật.
+ Trái phiếu kèm chứng quyền là loại hình trái phiếu được công ty cổ phần phát hành kèm theo chứng quyền, cho phép người sở hữu chứng quyền được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành theo điều kiện, điều khoản đã được xác định tại phương án phát hành trái phiếu.
2. Những nguyên tắc phát hành và sử dụng vốn trái phiếu doanh nghiệp
- Căn cứkhoản 5 Nghị định 153/2020/NĐ-CP và khoản 2, khoản 3 Điều 1 Nghị định 65/2022/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 153/2020/NĐ-CP) quy định:
(1)Doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo khả năng trả nợ;
(2)Mục đích phát hành trái phiếu là để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, cơ cấu lại nợ của chính doanh nghiệp hoặc mục đích phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Doanh nghiệp phải nêu cụ thể mục đích phát hành tại phương án phát hành theo quy định tại Điều 13 Nghị định 153/2020/NĐ-CP và công bố thông tin cho nhà đầu tư đăng ký mua trái phiếu. Việc sử dụng vốn huy động từ phát hành trái phiếu của doanh nghiệp phải đảm bảo đúng mục đích theo phương án phát hành và nội dung công bố thông tin cho nhà đầu tư.
(3)Đối với phát hành trái phiếu xanh, ngoài các nguyên tắc (1), (2) nêu trên thì nguồn vốn từ phát hành trái phiếu phải được hạch toán, quản lý theo dõi riêng và giải ngân cho các dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, dự án mang lại lợi ích về môi trường theo phương án phát hành đã được phê duyệt.
(4)Đối với trái phiếu đã phát hành tại thị trường trong nước, doanh nghiệp chỉ được thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu quy định tại Điều 6 Nghị định 153/2020/NĐ-CPkhi đáp ứng các quy định sau:
- Được cấp có thẩm quyền của doanh nghiệp phát hành thông qua;
- Được số người sở hữu trái phiếu đại diện từ 65% tổng số trái phiếu cùng loại đang lưu hành trở lên chấp thuận;
(5)Thông tin về việc thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu phải được doanh nghiệp phát hành công bố thông tin bất thường theo quy định.
Trái phiếu doanh nghiệp là một công cụ huy động vốn quan trọng, giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô và phát triển bền vững. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả và tính minh bạch, việc phát hành và sử dụng vốn từ trái phiếu cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc pháp lý. Điều này không chỉ bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư mà còn góp phần duy trì sự ổn định và phát triển lâu dài của thị trường tài chính.