Nội dung tình huống: Chị Bích đang làm việc tại Công ty TNHH Y theo hợp đồng lao động xác định thời hạn 36 tháng. Công ty Y thực hiện đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với các cá nhân theo hằng tháng. Thời gian làm việc tại Công ty Y, chị Bích luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, tháng 9 vừa qua, do sơ suất, chị Bích đã trễ hạn và không hoàn thành 01 nhiệm vụ được giao. Giám đốc công ty Y rất tức giận đã quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với chị Bích ngay (yêu cầu chị Bích nghỉ việc ngay ngày hôm sau).
Chị Bích không đồng ý với quyết định này của Giám đốc công ty Y về việc ngay lập tức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị chỉ vì 1 tháng không hoàn thành nhiệm vụ. Căn cứ theo pháp luật lao động, Giám đốc công ty Y quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với chị Bích như vậy là phù hợp hay không?
Trả lời:
- Thứ nhất: Khoản 1, Điều 36 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:
“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở; …”
Trong tình huống này, chị Bích chỉ không hoàn thành 01 đầu việc do sơ suất cá nhân, trong khi trước đó luôn chấp hành tốt nội quy và hoàn thành công việc. Bên cạnh đó, còn phải căn cứ vào tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của Công ty Y. Căn cứ vào nội dung tình huống này, này chưa thể hiện được rõ tình trạng “thường xuyên không hoàn thành công việc” theo điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động.
- Thứ hai: Khoản 2, Điều 36 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 quy định về việc phải báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều 36 như sau:
“2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;…”
Như vậy, Hợp đồng của chị Bích có thời hạn 36 tháng nên thuộc trường hợp phải báo trước ít nhất 30 ngày theo điểm b khoản 2 Điều 36 Bộ luật Lao động. Công ty Y thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngay lập tức đối với chị Bíchlà không bảo đảm thời hạn báo trước. Do đó, quyết định này vẫn trái pháp luật ngay cả khi Công ty chứng minh được một căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Vì các lý do trên, có thể thấy được quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với chị Bích ngay ngày hôm sau vì chị do sơ xuất không hoàn thành nhiệm vụ đối với 01 nhiệm vụ của Công ty Y là không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành./.