Thao túng thị trường chứng khoán là hành vi cố ý tạo ra biến động giả tạo về giá hoặc khối lượng giao dịch nhằm trục lợi bất hợp pháp, gây rối loạn trật tự thị trường. Theo quy định pháp luật, các hành vi như giao dịch lòng vòng, lan truyền thông tin sai lệch hoặc cấu kết giao dịch đều được coi là thao túng. Việc nhận diện và xử lý nghiêm các hành vi này là cần thiết để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và duy trì sự minh bạch, ổn định của thị trường. Cụ thể như sau:
1. Thời kỳ thao túng thị trường chứng khoán
- Điểm b khoản 2 Điều 3 Thông tư 117/2020/TT-BTC Quy định phương pháp tính khoản thu trái pháp luật, số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, quy định:
“Thời kỳ thao túng thị trường chứng khoán là giai đoạn người vi phạm thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán và được ghi nhận trong Biên bản vi phạm hành chính. Thời kỳ sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán là giai đoạn người vi phạm thực hiện hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán được ghi nhận trong Biên bản vi phạm hành chính. Số lượng tài khoản tham gia thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán hoặc sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán được xác định trong Biên bản vi phạm hành chính.”
2. Những hành vi được xem là thao túng thị trường chứng khoán
- Khoản 2 Điều 3 Nghị định 156/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, quy định:
+ “Thao túng thị trường chứng khoán” là việc thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định tại khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán, gồm một, một số hoặc tất cả các hành vi dưới đây:
(1) Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo;
(2) Đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịchhoặc thông đồng với nhau giao dịch mua, bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo;
(3) Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường;
(4) Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán;
(5) Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó;
(6) Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch ra công chúng để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán.
Thao túng thị trường chứng khoán không chỉ làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư mà còn gây tổn hại nghiêm trọng đến sự minh bạch và ổn định của thị trường. Dù các quy định pháp luật đã khá rõ ràng, việc ngăn chặn hiệu quả các hành vi này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, tổ chức thị trường và nhà đầu tư, cùng với việc tăng cường chế tài xử lý và áp dụng công nghệ để phát hiện kịp thời.
Ngô Dũng