Ngày 23/9/2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3216/QĐ-UBND về Đề án đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 – 2030. Theo đó Đề án nhằm cụ thể hóa kịp thời chủ trương của Trung ương và của tỉnh, tạo cơ sở thống nhất để lãnh đạo, chỉ đạo, phân công, phối hợp, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ cải cách hành chính trong giai đoạn 2026-2030. Xây dựng nền hành chính tỉnh Phú Thọ dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, công khai, minh bạch, kỷ cương, liêm chính, phục vụ Nhân dân; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy sự hài lòng và hiệu quả thực chất làm thước đo. Đề án gồm một số nội dung cơ bản như sau:
1. Đối tượng thực hiện Đề án bao gồm: Các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường; các cơ quan ngành dọc Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh.
2. Thời gian thực hiện Đề án: 02 giai đoạn:
a) Giai đoạn 1: Năm 2026 đến hết năm 2027: Triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính giai đoạn 2026 - 2027; tổ chức đánh giá kết quả, báo cáo UBND tỉnh theo quy định.
b) Giai đoạn 2: Năm 2028 đến hết năm 2030:
+ Triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính giai đoạn 2028 - 2030; Tổ chức đánh giá kết quả, báo cáo UBND tỉnh theo quy định.
+ Năm 2028 sơ kết giữa kỳ; năm 2030 tổ chức tổng kết, đánh giá toàn diện kết quả triển khai thực hiện Đề án.
3. Phạm vi của Đề án: Tập trung vào 07 nội dung: Công tác chỉ đạo, điều hành; cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công; xây dựng và phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số. Trong đó, cải cách thủ tục hành chính là trọng tâm, xuyên suốt, gắn với chuyển đổi số, dữ liệu số và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
4. Mục tiêu cụ thể của Đề án:
- Cải cách thể chế: Năm 2026, hoàn thiện việc sửa đổi, bổ sung hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính, bảo đảm cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, ổn định, khả thi cho bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở hoạt động thông suốt, liên tục, nghiêm minh và hiệu quả
- Cải cách thủ tục hành chính: Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn và trước hạn ở cấp tỉnh và cấp xã hằng năm bình quân đạt trên 95%. Đến năm 2027, tỷ lệ cấp kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử đạt 100%; 95% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
- Cải cách tổ chức bộ máy: Đến năm 2027, hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị sự nghiệp, trường học, cơ sở y tế, doanh nghiệp nhà nước. Đến năm 2030, tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế 5% - 10% so với năm 2026.
- Cải cách chế độ công vụ: Đột phá, đổi mới công tác đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cơ quan hành chính nhà nước và công chức, viên chức gắn với kết quả, sản phẩm thực hiện nhiệm vụ được giao theo KPI. Từ năm 2026, các cơ quan, tổ chức, địa phương giảm tối thiểu 15% số lượng văn bản hành chính so với năm trước; Giảm 10% số lượng hội nghị hằng năm. Đến năm 2029, 100% cán bộ, công chức cấp xã có trình độ cao đẳng, đại học và được chuẩn hóa về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng làm việc.
- Cải cách tài chính công: Đến năm 2030, Thực hiện cơ chế chính sách về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tự chủ tài chính đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm kịp thời, đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước; Giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 - 2025.
- Xây dựng Chính quyền điện tử, chính quyền số: Đến năm 2027, mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu của tỉnh đạt cấp độ 3; Đến năm 2029, mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu của tỉnh đạt cấp độ 4. Đến năm 2027, 100% thủ tục hành chính có đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đến năm 2027, 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; đến năm 2030, tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin, dữ liệu đã được số hóa trong giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công đạt 90%.
Đến năm 2030, tỷ lệ thanh toán trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia trên tổng số giao dịch thanh toán của dịch vụ công đạt 90%
Đến năm 2030, 100% toàn bộ dữ liệu đất đai, quy hoạch, thủ tục đầu tư, kinh doanh được số hóa; triển khai “luồng xanh” thủ tục hành chính đối với một số thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, xây dựng, đất đai.
Đến năm 2030, 100% các cơ quan, đơn vị cung cấp dữ liệu mở đúng chuẩn.
Đến năm 2030, 70% hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan; xây dựng, chuẩn hóa, cập nhật, kết nối và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về dân tộc, tôn giáo; văn hóa, thể thao và du lịch; y tế, hồ sơ sức khỏe điện tử, sổ sức khỏe điện tử; bảo đảm dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, liên thông, dùng chung được, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, hoạch định chính sách và giám sát chất lượng phục vụ.
- Công tác chỉ đạo điều hành: Phấn đấu Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) nằm trong nhóm 10 tỉnh, thành phố cao nhất cả nước; Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) nằm trong nhóm 15 tỉnh, thành phố cao nhất cả nước; Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) nằm trong nhóm 15 tỉnh, thành phố cao nhất cả nước; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Phấn đấu duy trì thứ hạng đã đạt được năm 2025 (thuộc nhóm 5 tỉnh, thành phố cao nhất cả nước).
Phấn đấu hằng năm đạt 25% số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và đơn vị hành chính cấp xã được kiểm tra cải cách hành chính, công vụ
Phấn đấu hằng năm có từ 3-5 sáng kiến đổi mới, sáng tạo trong triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính được cấp có thẩm quyền công nhận
- Chỉ tiêu đặc thù phục vụ mục tiêu xây dựng Phú Thọ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2045: Đến năm 2030: (1) 100% dữ liệu quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu hạ tầng kỹ thuật đô thị, giao thông, cấp thoát nước, môi trường, nhà ở, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu du lịch và các không gian phát triển trọng điểm được số hóa, chuẩn hóa, quản lý thống nhất, cập nhật thường xuyên trên nền tảng dữ liệu không gian/GIS và các hệ thống thông tin dùng chung của tỉnh. (2) 100% thủ tục hành chính liên quan đến phát triển đô thị, đầu tư hạ tầng, cấp phép xây dựng, đất đai, môi trường, nhà ở xã hội, đăng ký kinh doanh và các dự án động lực được quản lý, theo dõi, giám sát tiến độ trên môi trường số; phấn đấu tối thiểu 90% hồ sơ đủ điều kiện được xử lý theo quy trình điện tử liên thông, hạn chế tối đa yêu cầu nộp lại giấy tờ đã được số hóa. (3) các xã, phường phấn đấu xây dựng, vận hành mô hình kinh tế mới, hoặc mô hình kinh tế đặc thù gắn với đổi mới quản lý hành chính và cung cấp dịch vụ công số, phù hợp lợi thế từng địa bàn như kinh tế số nông thôn, thương mại điện tử, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa - tâm linh, kinh tế đêm, logistics, dịch vụ đô thị thông minh, nông nghiệp công nghệ cao, sản phẩm OCOP, y tế và giáo dục chất lượng cao.
Đề án đề ra 8 nhóm giải pháp cơ bản nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, cụ thể: (1) Tăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo, nâng cao hiệu lực chỉ đạo, điều hành và trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương; (2) Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý cho tổ chức thực hiện; (3) Tạo đột phá thực chất, toàn diện trong cải cách thủ tục hành chính; (4) Sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hợp lý, vận hành thông suốt; (5) Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; (6) Đổi mới cơ chế quản lý tài chính công, ưu tiên nguồn lực cho cải cách hành chính; (7) Đẩy nhanh xây dựng chính quyền số, hành chính số, dữ liệu số, lấy chuyển đổi số làm phương thức đột phá; (8) Xây dựng và phát triển mô hình kinh tế mới, kinh tế đặc thù (Ưu tiên nguồn lực xây dựng mô hình kinh tế mới và mô hình kinh tế đặc thù phù hợp lợi thế từng địa phương như kinh tế số nông thôn, thương mại điện tử, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa - tâm linh, kinh tế đêm, logistics, dịch vụ đô thị thông minh, nông nghiệp công nghệ cao, sản phẩm OCOP, y tế và giáo dục chất lượng cao… Đẩy mạnh công nghệ thông tin và chuyển đổi số vào xây dựng các mô hình kinh tế tại địa phương)./.
Lê Uyên