Nghị định số 303/2026/NĐ-CP: Nhiều quy định mới về quản lý, phát triển cụm công nghiệp
Ngày 01/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 về quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Nghị định bổ sung nhiều quy định mới về loại hình cụm công nghiệp, ngành nghề thu hút đầu tư, điều kiện và trình tự thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; cơ chế hỗ trợ đầu tư và trách nhiệm của chính quyền địa phương.
Bổ sung nhiều loại hình cụm công nghiệp mới
Theo Nghị định, cụm công nghiệp là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và cung cấp các dịch vụ phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, với diện tích từ 05 ha đến 75 ha.
Nghị định tiếp tục quy định cụm công nghiệp làng nghề phải dành tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp cho việc di dời, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong làng nghề hoặc có nghề truyền thống được công nhận.
Đáng chú ý, Nghị định bổ sung 04 loại hình cụm công nghiệp, gồm:
· Cụm công nghiệp chuyên ngành, có tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp dành cho các dự án đầu tư cùng ngành, nghề;
· Cụm công nghiệp hỗ trợ, có tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp dành cho các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ;
· Cụm công nghiệp công nghệ cao, có tối thiểu 30% diện tích đất công nghiệp dành cho các dự án nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ cao;
· Cụm công nghiệp sinh thái, được phát triển theo hướng kinh tế tuần hoàn, sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng, nước, nguyên liệu và giảm thiểu chất thải.
Nhà nước ưu tiên, khuyến khích phát triển cụm công nghiệp làng nghề, cụm công nghiệp chuyên ngành, hỗ trợ, công nghệ cao, sinh thái và các loại hình cụm công nghiệp theo hướng thông minh, hiệu quả, bền vững.
Mở rộng ngành nghề và đối tượng được khuyến khích đầu tư
Nghị định quy định các ngành, nghề được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp, gồm công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp; cơ khí; công nghiệp hỗ trợ; dệt may, da giày; công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử; năng lượng tái tạo; công nghệ số, tự động hóa; thiết bị y tế; vật liệu mới; công nghệ sinh học và các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng.
Các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cần được bảo tồn, phát triển tại địa phương; công nghiệp sản xuất, chế tạo thiết bị và sản phẩm phục vụ bảo vệ môi trường, xử lý, tái chế chất thải; dịch vụ kho bãi, đóng gói, vận chuyển, sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị cũng thuộc nhóm được khuyến khích đầu tư.
Đối tượng được khuyến khích đầu tư gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề; doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm cần di dời khỏi khu dân cư và các doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt, tạo động lực phát triển.
UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể ngành, nghề, đối tượng thu hút đầu tư và loại hình của từng cụm công nghiệp, phù hợp với quy hoạch tỉnh, định hướng phát triển kinh tế - xã hội và điều kiện thực tế của địa phương.
Quy định rõ điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp
Việc thành lập cụm công nghiệp phải đáp ứng các điều kiện: có trong danh mục cụm công nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh đã được phê duyệt; có quỹ đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh; có doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc tổ chức có tư cách pháp lý, đủ năng lực làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
Trường hợp địa bàn cấp xã đã có cụm công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy bình quân của các cụm công nghiệp phải đạt trên 50% hoặc tổng diện tích đất công nghiệp chưa cho thuê không vượt quá 50 ha. Điều kiện này không áp dụng đối với việc thành lập cụm công nghiệp công nghệ cao và cụm công nghiệp sinh thái.
Đối với việc mở rộng, tổng diện tích cụm công nghiệp sau khi mở rộng không được vượt quá 75 ha; tỷ lệ lấp đầy phải đạt ít nhất 50% hoặc nhu cầu thuê đất phải vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có. Cụm công nghiệp phải hoàn thành, đưa vào sử dụng các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông nội bộ, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải, phòng cháy, chữa cháy, trừ một số trường hợp chuyển tiếp được Nghị định quy định.
Quy trình thành lập, mở rộng cụm công nghiệp theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc tổ chức đề nghị làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nộp 01 bộ hồ sơ kèm tệp điện tử đến UBND cấp xã bằng hình thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính công ích hoặc thông qua cổng dịch vụ công trực tuyến.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầu tiên, UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo rộng rãi việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Thời hạn tiếp nhận hồ sơ là 05 ngày làm việc kể từ ngày thông báo.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc tiếp nhận hồ sơ, UBND cấp xã lập tờ trình, gửi Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức thẩm định. Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Sở Công Thương hoàn thành việc thẩm định và báo cáo UBND cấp tỉnh.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ và báo cáo thẩm định, UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định việc thành lập, mở rộng cụm công nghiệp và thông báo kết quả lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
Quy định cụ thể việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
Việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật là một nội dung trong quá trình thẩm định hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Trường hợp có nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc tổ chức cùng đề nghị làm chủ đầu tư, UBND cấp tỉnh thành lập Hội đồng đánh giá lựa chọn chủ đầu tư.
Hội đồng do lãnh đạo UBND cấp tỉnh làm Chủ tịch; lãnh đạo Sở Công Thương làm Phó Chủ tịch; thành viên là lãnh đạo các sở, cơ quan liên quan.
Việc đánh giá được thực hiện theo thang điểm 100, gồm:
· Phương án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật: tối đa 15 điểm;
· Phương án quản lý, bảo vệ môi trường: tối đa 15 điểm;
· Năng lực, kinh nghiệm của doanh nghiệp, hợp tác xã: tối đa 30 điểm;
· Phương án tài chính: tối đa 40 điểm.
Tổ chức đạt từ 50 điểm trở lên được UBND cấp tỉnh xem xét giao làm chủ đầu tư. Trường hợp có từ hai tổ chức trở lên cùng đạt điểm cao nhất, việc lựa chọn được thực hiện theo đề xuất của Chủ tịch Hội đồng đánh giá. Quy định này góp phần công khai, minh bạch tiêu chí lựa chọn và nâng cao năng lực của chủ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp.
Tăng cường yêu cầu về hạ tầng, đất đai và bảo vệ môi trường
Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức lập, trình phê duyệt quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp. Nội dung quy hoạch phải phù hợp với quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; bố trí hệ thống hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu về giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, bảo vệ môi trường, thu gom và xử lý nước thải.
Tổ chức, cá nhân đầu tư vào cụm công nghiệp thực hiện thủ tục thuê lại đất gắn với hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và chỉ được đưa dự án vào hoạt động khi cụm công nghiệp đã hoàn thành hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật chung.
Chủ đầu tư phải thu hút đúng ngành, nghề, loại hình và đối tượng được xác định trong quyết định thành lập cụm công nghiệp; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thực hiện các thủ tục đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Bổ sung cơ chế hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
Nghị định cho phép địa phương sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp. Nội dung hỗ trợ gồm các công trình giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và thông tin liên lạc.
Đối tượng được ưu tiên hỗ trợ gồm cụm công nghiệp dành quỹ đất cho doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; cụm công nghiệp tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; cụm công nghiệp làng nghề, chuyên ngành, hỗ trợ, công nghệ cao và sinh thái.
Tài sản hình thành từ nguồn ngân sách địa phương hỗ trợ xây dựng hạ tầng kỹ thuật không áp dụng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Chủ đầu tư có trách nhiệm quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên các công trình được hỗ trợ để phục vụ hoạt động chung của cụm công nghiệp.
Phân định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương
UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng và thực hiện phương hướng phát triển cụm công nghiệp; quyết định thành lập, mở rộng, điều chỉnh hoặc bãi bỏ quyết định thành lập cụm công nghiệp; ban hành nguyên tắc, tiêu chí, định mức và thủ tục hỗ trợ đầu tư từ ngân sách địa phương.
UBND cấp tỉnh đồng thời có trách nhiệm rà soát, xử lý dứt điểm các cụm công nghiệp, dự án đầu tư chậm tiến độ, không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, sử dụng đất không hiệu quả hoặc có hành vi vi phạm pháp luật.
UBND cấp xã thực hiện kiểm tra, xử lý hoặc đề xuất xử lý các hành vi vi phạm về đất đai, đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và các quy định khác liên quan đến cụm công nghiệp trên địa bàn; báo cáo UBND cấp tỉnh và Sở Công Thương về tình hình hoạt động của cụm công nghiệp.
Nghị định số 303/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026. Kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, các Điều 6, 11 và 12 của Nghị định số 139/2025/NĐ-CP hết hiệu lực thi hành. Các cụm công nghiệp đang trong quá trình thẩm định, xem xét thành lập, mở rộng tiếp tục thực hiện theo quy định của Nghị định số 32/2024/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung. Đối với cụm công nghiệp hiện có diện tích lớn hơn 75 ha, đã lấp đầy diện tích đất công nghiệp hoặc đang thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, UBND cấp tỉnh xem xét quyết định giữ nguyên hoặc điều chỉnh giảm diện tích phù hợp với yêu cầu quản lý của địa phương./.